Đăng ký | Đăng nhập

Email / Điện thoại

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu | Quên mật khẩu

1000083467
1000082861
BẢN QUYỀN THUỘC VIỆN CHÍNH TRỊ, HÀNH CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG THEO CHỨNG NHẬN SỐ A-1834 CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP NGÀY 08/11/2017. Chịu trách nhiệm nội dung website: GS.TSKH Phan Xuân Sơn. Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh ☎️ 0927890588

BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC

In bài viết
BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC TẠI ĐỊA PHƯƠNG


GS.TSKH Phan Xuân Sơn

Viện Chính trị, hành chính và chính sách công 

thuộc Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam

Mục lục bài viết

110

BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC


TIẾP TỤC HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC TẠI ĐỊA PHƯƠNG


GS.TSKH Phan Xuân Sơn

Viện Chính trị, hành chính và chính sách công 

thuộc Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam


MỞ ĐẦU

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và quản trị địa phương. Một trong những bước đi mang tính đột phá và có ý nghĩa lịch sử trong tiến trình này là việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (bao gồm cấp tỉnh và cấp cơ sở: xã, phường, đặc khu; bãi bỏ hoàn toàn cấp trung gian hành chính là cấp huyện).

Sự thay đổi căn bản về cấu trúc quyền lực và mô hình tổ chức hành chính lãnh thổ này không thuần túy là việc cắt giảm một cấp hành chính, mà là sự định hình lại phương thức quản trị quốc gia, tác động trực tiếp, sâu sắc đến cơ chế vận hành tổng thể của hệ thống chính trị theo phương châm: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; giải quyết mối quan hệ chủ yếu trong đời sống xã hội của đất nước là Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong bối cảnh đó, cấu trúc tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức Đảng và Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) tại địa phương, nhất là ở cơ sở phải đối mặt với những yêu cầu, thách thức hoàn toàn mới, đòi hỏi một sự đổi mới căn bản, toàn diện để tương thích với mô hình chính quyền địa phương hai cấp mới này.

I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

1.1. Bản chất và triết lý vận hành của mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong lý luận về quản trị công hiện đại, việc phân cấp, phân quyền và thiết lập các cấp chính quyền địa phương phải dựa trên các nguyên tắc về quy mô kinh tế - xã hội, khoảng cách địa lý, năng lực quản trị và tính chất của dịch vụ công.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (Cấp chiến lược/vĩ mô - Cấp tỉnh; và Cấp thực thi/vi mô - Cấp cơ sở) triệt tiêu cấp trung gian (cấp huyện) nhằm đạt được ba mục tiêu cốt lõi:

Một là: Rút ngắn khoảng cách chỉ đạo hành chính: Mọi quyết sách, định hướng phát triển từ cấp tỉnh sẽ được truyền đạt và tổ chức thực hiện trực tiếp xuống cấp cơ sở, loại bỏ sự  chậm trễ, chồng chéo và khúc xạ thông tin qua cấp trung gian.

Hai là: Tối ưu hóa nguồn lực công: Cắt giảm chi phí vận hành bộ máy khổng lồ của cấp huyện (bao gồm cả khối chính quyền, khối Đảng và các đoàn thể), tập trung nguồn lực tài chính và nhân sự cho tuyến đầu cơ sở.

Ba là: Định vị rõ quyền hạn và trách nhiệm: UBND cấp cơ sở được trao quyền chủ động rất lớn trong điều hành kinh tế - xã hội, trở thành trung tâm thực thi pháp luật và cung ứng dịch vụ công trực tiếp cho người dân.

1.2. Sự thay đổi cấu trúc quản trị và tác động hệ thống

Khi bãi bỏ cấp huyện, mô hình quản lý nhà nước dịch chuyển mạnh mẽ sang cơ chế quản trị đa tầng nhưng trực tiếp. Cấp tỉnh đóng vai trò thiết chế điều hành chiến lược, ban hành khung chính sách, quy hoạch và thanh tra, kiểm tra. Cấp cơ sở (xã, phường, đặc khu - hải đảo) trở thành pháp nhân hành chính chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và chính quyền cấp trên về mọi mặt đời sống dân sinh trên địa bàn.

Sự gia tăng quyền lực và áp lực trách nhiệm hành chính tại cấp cơ sở đòi hỏi phải tái cấu trúc lại hệ thống chính trị cấp cơ sở,  từ phân bổ quyền lực, cơ chế vận hành và các quan hệ làm việc mới. Việc thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước ở cấp cơ sở đòi hỏi phải có một cơ chế kiểm soát quyền lực tương xứng, bảo đảm quyền lực hành chính, được tập trung hơn không bị lạm dụng, đồng thời quyền làm chủ của nhân dân phải được thực hiện một cách thực chất.

II: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐẶT RA

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp, kết hợp với chủ trương hợp nhất, chuyển giao 5 tổ chức chính trị - xã hội lớn (Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) và các hội quần chúng về trực thuộc sự quản lý hành chính tổng thể của Mặt trận Tổ quốc đã và đang tạo ra những "dư chấn" tổ chức lớn tại địa phương. Thực tế bộc lộ những nút thắt và thách thức cốt lõi sau:

2.1. Đối với các tổ chức Đảng tại địa phương

  1. a) Áp lực quá tải trong phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với Cấp cơ sở

Trước đây, Tỉnh ủy lãnh đạo các Đảng bộ xã, phường thông qua cầu nối là các Huyện ủy, Thị ủy, Thành ủy trực thuộc tỉnh. Hệ thống các cơ quan tham mưu, giúp việc của Huyện ủy (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ủy ban Kiểm tra...) đóng vai trò là "màng lọc", hướng dẫn chuyên môn và kiểm tra sát sao từng chi bộ, đảng bộ cơ sở.

Khi bãi bỏ cấp huyện, Tỉnh ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo hàng trăm, thậm chí hàng nghìn đảng bộ, chi bộ trên có sở và cơ sở. Sự gia tăng đột biến về số lượng đầu mối trực thuộc khiến các cơ quan tham mưu của Tỉnh ủy rơi vào tình trạng quá tải, khó có thể sâu sát, nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, công tác cán bộ và sinh hoạt Đảng ở từng địa phương vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo.

  1. b) Nguy cơ buông lỏng hoặc bao biện, làm thay trong quan hệ giữa Đảng ủy và UBND cấp cơ sở

Tại cấp cơ sở, khi chính quyền vận hành theo chế độ thủ trưởng mạnh mẽ, với chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, người đứng đầu UBND xã/phường có quyền lực rất lớn, có những quyền trước đây không có, trong điều hành ngân sách, đất đai, nhân sự... Trong khi đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, gần như chưa được nâng cấp. Thực tế dễ dẫn đến hai xu hướng tiêu cực:

Một là, Đảng ủy cơ sở buông lỏng lãnh đạo, không kiểm soát được các quyết định hành chính lớn của UBND, dẫn đến cán bộ chính quyền sai phạm, độc đoán.

Hai là, Đảng ủy bao biện, làm thay công việc của chính quyền, can thiệp thô bạo vào hoạt động tác nghiệp hành chính của UBND, làm giảm tính chủ động, linh hoạt của bộ máy quản lý nhà nước.

  1. c) Các áp lực về thể chế

Mỗi loại hình địa bàn (xã nông nghiệp, phường đô thị, đặc khu - hải đảo) đều có những đặc điểm địa chính trị - kinh tế riêng, dẫn đến những thách thức không giống nhau cho các tổ chức Đảng:

- Đối với tổ chức Đảng ở cấp Xã (Khu vực nông thôn)

Thách thức về "già hóa" và "trống" đảng viên: Do làn sóng chuyển dịch lao động, thanh niên nông thôn có xu hướng ly hương để làm việc tại các khu công nghiệp hoặc đô thị lớn. Nguồn kế cận để bồi dưỡng kết nạp Đảng ở nông thôn suy giảm nghiêm trọng. Đảng số tại nhiều chi bộ chủ yếu là các đồng chí cán bộ hưu trí hoặc đảng viên lớn tuổi, dẫn đến thiếu tính thực tiễn năng động, thiếu sức trẻ và giảm sức chiến đấu.

Năng lực chuyển đổi tư duy kinh tế: Mô hình sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế số, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, tuần hoàn và liên kết chuỗi giá trị. Tuy nhiên, một bộ phận cấp ủy viên cấp xã còn nặng tư duy thuần nông, lúng túng trong việc ra nghị quyết lãnh đạo phát triển kinh tế nông thôn mới.

Đối với tổ chức Đảng ở cấp Phường

Sự lỏng lẻo trong quản lý đảng viên biến động: Đô thị hóa tạo ra các khu chung cư cao tầng, các khu nhà trọ công nhân với mật độ dân cư biến động liên tục. Việc quản lý đảng viên sinh hoạt theo Quy định số 213 (đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú) gặp khó khăn do tính chất khép kín của lối sống đô thị. Nhiều đảng viên đã thay đổi nơi sinh sống (hộ khẩu), nhưng không hoặc chưa chuyển sinh hoạt đến nơi mới. Thành thử ở cả nơi ở cũ và nơi ở mới đều khó quản lý sịnh hoạt.

Xung đột lợi ích và áp lực quản lý nhà nước: Phường là nơi tập trung các điểm nóng về trật tự xây dựng, giải phóng mặt bằng, quản lý trật tự đô thị và an sinh xã hội. Tổ chức Đảng ở phường chịu áp lực rất lớn khi phải đứng ra giải quyết các xung đột giữa yêu cầu phát triển hạ tầng và quyền lợi của người dân. Nếu không vững vàng, cán bộ rất dễ rơi vào suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trước các cám dỗ vật chất.

Xáo trộn vị trí việc làm và nơi làm việc: Sau khi bỏ cấp huyện, đội ngũ cán bộ của huyện hầu hết đều bố trí về làm việc ở cấp xã, từ cán bộ đơn nhiệm thành cán bộ đa nhiệm. Có một số chuyên môn nghiệp vụ đã có sẵn kinh nghiệm, nhưng nhiều chuyên môn phải đào tại lại, cập nhật. Hệ thống các công cụ lãnh đạo, quản lý cũng cần phải làm quen, thậm chí ngày từ đầu. Mức phụ cấp trách nhiệm của các các chức danh lãnh đạo quản lý đều giảm. Bên cạnh đó, thay đổi nơi làm việc và ổn định cuộc sống bản thân và gia định cũng là một thách thức không hề nhỏ.


2.2. Đối với tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở

  1. a) Áp lực "quá tải hành chính" từ mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực

Mô hình MTTQ quản lý hành chính đối với 5 tổ chức chính trị - xã hội là một bước đi mạnh mẽ nhằm tinh gọn đầu mối. Tuy nhiên, tại cấp cơ sở, thách thức này đang hiển hiện rất rõ ràng:

┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐

│             SỰ DỊCH CHUYỂN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA MTTQ CẤP CƠ SỞ          │

├───────────────────────────────────┬────────────────────────────────────┤

│         Mô hình truyền thống      │            Mô hình hai cấp mới     │

├───────────────────────────────────┼────────────────────────────────────┤

│ • Tập trung công tác vận động,   │ • Gánh vác công tác quản lý hành   │

│   tuyên truyền phong trào.        │   chính, biên chế, thi đua.        │

│ • Các tổ chức thành viên vận hành│ • Tiếp nhận, xử lý tài chính và   │

│   theo ngành dọc độc lập.         │   ngân sách tổng thể của 5 hội.    │

│ • Nhiệm vụ giám sát phối hợp qua │ • Trực tiếp đối trọng giám sát     │

│   sự điều phối của cấp huyện.    │   UBND cấp cơ sở đầy quyền lực.    │

└───────────────────────────────────┴────────────────────────────────────┘

Cán bộ MTTQ cấp cơ sở vốn có thế mạnh và quen thuộc với công tác dân vận, vận động quần chúng. Khi đảm nhận vai trò quản lý hành chính (biên chế, nhân sự, tài chính, thi đua khen thưởng) của cả 5 tổ chức thành viên, họ lâm vào tình trạng lúng túng do thiếu kỹ năng quản trị văn phòng và quản lý tài chính công chuyên nghiệp. Mặt trận có nguy cơ bị "hành chính hóa", sa vào giấy tờ, sổ sách, họp hành nội bộ, từ đó xa rời địa bàn và nhân dân.

  1. b) Nguy cơ triệt tiêu tính chủ động, đặc thù của các tổ chức chính trị - xã hội thành viên

Mỗi tổ chức chính trị - xã hội đều có đối tượng tập hợp, phương thức hoạt động và sứ mệnh lịch sử riêng biệt (Thanh niên cần sự bùng nổ, sáng tạo; Phụ nữ cần sự tinh tế, đi sâu vào góc độ giới, gia đình; Nông dân gắn chặt với tư liệu sản xuất và kinh tế nông nghiệp...). Việc quy về một mối quản lý hành chính nếu áp dụng một cơ chế phê duyệt cứng nhắc, cồng kềnh sẽ dễ làm mất đi tính linh hoạt, sáng tạo và sắc thái riêng của từng tổ chức, biến các tổ chức này thành các "phòng, ban" chức năng thuần túy của Mặt trận và trở thành môt bộ máy hành chính bên canhj mọt bộ máy hành chính khác là UBND.

  1. c) Sự thiếu hụt công cụ hành vi và vị thế pháp lý trong hoạt động Giám sát, Phản biện

Bỏ cấp huyện đồng nghĩa với việc không còn HĐND cấp huyện và cơ chế giám sát trung gian. Quyền lực hành chính của UBND cấp cơ sở tăng lên tối đa dưới sự điều hành dọc từ cấp tỉnh. Trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn chưa trao cho MTTQ cấp cơ sở các công cụ chế tài đủ mạnh. Các kiến nghị sau giám sát của Mặt trận chủ yếu mang tính chất khuyến nghị, đề xuất. Khi UBND cùng cấp thờ ơ, chậm giải quyết hoặc giải quyết mang tính đối phó, MTTQ cấp cơ sở thiếu các chế tài pháp lý trực tiếp để xử lý trách nhiệm người đứng đầu chính quyền.

  1. d) Sự phụ thuộc tài chính làm xói mòn tính khách quan của giám sát

Hiện nay, nguồn kinh phí hoạt động của MTTQ cấp cơ sở vẫn do UBND cùng cấp phê duyệt và cấp phát dựa trên dự toán ngân sách hàng năm. Cơ chế "xin - cho" về mặt tài chính này vô hình trung tạo ra một rào cản tâm lý cực kỳ lớn: Cán bộ Mặt trận nể nang, né tránh, ngại va chạm, không dám đấu tranh trực diện với những sai phạm của UBND cùng cấp vì lo ngại ảnh hưởng đến nguồn kinh phí và các điều kiện làm việc của tổ chức mình.

III: YÊU CẦU ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Để giải quyết triệt để những bất cập nêu trên, bảo đảm hệ thống chính trị địa phương vận hành thông suốt, hiệu lực trong mô hình chính quyền hai cấp, đòi hỏi các tổ chức Đảng phải đổi mới mạnh mẽ cả về phương thức lãnh đạo, công tác cán bộ lẫn công nghệ quản trị. Cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp đột phá sau: 

3.1. Nhóm giải pháp đối với các tổ chức Đảng: Đổi mới phương thức lãnh đạo và kiểm soát quyền lực, xây dựng năng lực thích ứng đội ngũ cán bộ đảng viên

a) Đổi mới phương thức ra nghị quyết và sinh hoạt Đảng

- Nghị quyết phải "trúng" và "sát": Chấm dứt tình trạng nghị quyết rập khuôn từ cấp trên. Nghị quyết của Đảng ủy xã, phường, đặc khu phải đi thẳng vào các chỉ số kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương (ví dụ: chuyển đổi bao nhiêu ha đất lúa kém hiệu quả; xử lý dứt điểm bao nhiêu vụ tranh chấp đất đai).

  1. b) Quy định rõ ràng, minh bạch quy chế làm việc mẫu của Đảng ủy cơ sở

Ban hành Quy chế làm việc mẫu, phân định rạch ròi giữa Quyền quyết định lãnh đạo của Đảng ủy (về chủ trương, nhân sự chủ chốt, định hướng phát triển kinh tế - xã hội địa phương) và Quyền điều hành tác nghiệp của Chủ tịch UBND cấp cơ sở.

Xóa bỏ triệt để tư duy bao biện làm thay hoặc buông lỏng quản lý; quy định rõ trách nhiệm giải trình của Chủ tịch UBND trước Đảng ủy trong các cuộc họp định kỳ.

  1. c) Ứng dụng công nghệ số vào sinh hoạt Chi bộ: Cần số hóa tài liệu sinh hoạt, triển khai các ứng dụng "Sổ tay đảng viên điện tử" để đảng viên đi làm ăn xa, làm ca kíp, hoặc chưa kịp chuyển sinh hoạt đến nơi ở mới, ẫn nắm bắt kịp thời chủ trương và tham gia đóng góp ý kiến từ xa (trong phạm vi quy định bảo mật). Xây dựng hệ thống quản lý đảng viên và sinh hoạt chi bộ trực tuyến đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, cho phép thường trực Tỉnh ủy theo dõi, giám sát chất lượng sinh hoạt đảng và tiến độ thực hiện nghị quyết của các đảng bộ cơ sở theo thời gian thực.
  2. d) Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát trực tiếp, xuyên suốt của Tỉnh ủy

- Phân vùng và ủy quyền giám sát: Tỉnh ủy cần thiết lập các Khu vực/Đặc khu giám sát trực thuộc Ủy ban Kiểm tra và Ban Tổ chức Tỉnh ủy, cắm chốt tại các cụm địa bàn liên xã nhằm thu hẹp khoảng cách địa lý, thay thế vai trò kiểm tra, hướng dẫn của HĐND và cấp ủy huyện trước đây.

e) Chuẩn hóa và trẻ hóa đội ngũ cán bộ cơ sở

Luân chuyển và "nhúng mình" vào thực tế: Tăng cường luân chuyển cán bộ trẻ có trình độ từ cấp huyện, cấp tỉnh về giữ các chức danh chủ chốt ở xã, phường để rèn luyện qua thực tiễn. Ngược lại, có chính sách đãi ngộ, thu hút trí thức trẻ làm phó bí thư, cán bộ chuyên trách cấp xã.

Cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nghĩ, dám làm": Cụ thể hóa Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị tại cấp cơ sở. Khi người đứng đầu có ý tưởng đột phá vì lợi ích chung nhưng vướng rào cản cơ chế, cấp ủy cấp trên phải đồng hành, giám sát và bảo vệ, tránh tâm lý "sợ sai, co cụm, giữ an toàn" của cán bộ xã, phường hiện nay.

g) Phương thức lãnh đạo hài hòa: "Nhà nước - Thị trường - Xã hội"

Tổ chức Đảng ở cơ sở không thể bao biện, làm thay chính quyền, nhưng cũng không thể đứng ngoài các quy luật thị trường.

Xây dựng và thực hiện Mô hình cốt lõi: Đảng lãnh đạo bằng định hướng và kiểm tra; Chính quyền (Nhà nước) quản lý bằng pháp luật; MTTQ và các đoàn thể (Xã hội) phản biện, thực hiện dân chủ cơ sở; Doanh nghiệp và người dân (Thị trường) tự do sáng tạo, kinh doanh trong khuôn khổ. Sự phối hợp nhịp nhàng này tạo ra thế kiềng ba chân vững chắc cho quản trị địa phương.

┌───3.2. Nhóm giải pháp đối với Mặt trận Tổ quốc: Tái cấu trúc tổ chức và nâng cao vị thế pháp lý

  1. a) Xây dựng mô hình "Văn phòng quản trị chung" tinh gọn, chuyên nghiệp tại cấp cơ sở

- Hợp nhất bộ máy văn thư - hành chính - tài chính: Thiết lập một bộ phận văn phòng dùng chung cho cả Mặt trận và 5 tổ chức chính trị - xã hội. Toàn bộ công tác kế toán, quản lý tài sản, văn thư lưu trữ được quy về một đầu mối xử lý, giải phóng cán bộ chuyên trách của các hội khỏi gánh nặng thủ tục hành chính để họ tập trung 100% thời gian cho công tác bám dân, bám địa bàn.

  1. b) Giữ vững tính độc lập chuyên môn của các tổ chức thành viên: Khẳng định rõ Mặt trận chỉ quản lý về mặt hành chính tổ chức và điều phối tổng thể nguồn lực. Các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ... giữ nguyên quyền tự quyết về nội dung, phương thức tập hợp, phong trào hành động đặc thù của giới mình thông qua điều lệ tổ chức.
  2. b) Luật hóa mạnh mẽ quy trình giải trình và chế tài sau giám sát của Mặt trận

- Quy định thời hạn giải trình bắt buộc: Cần bổ sung vào các văn bản luật quy định: Khi MTTQ cấp cơ sở phát hành văn bản kiến nghị sau giám sát hoặc phản biện xã hội, UBND cùng cấp bắt buộc phải trả lời và đưa ra phương án khắc phục bằng văn bản trong thời hạn tối đa là 15 ngày làm việc.

- Cơ chế báo cáo vượt cấp bảo vệ quyền lợi nhân dân: Trong trường hợp UBND cấp cơ sở không thực hiện hoặc thực hiện không thỏa đáng kiến nghị, MTTQ cấp cơ sở có quyền lập hồ sơ báo cáo thẳng lên Thường trực Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh và Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh để kích hoạt quy trình thanh tra, kiểm tra công vụ đối với Chủ tịch UBND cấp cơ sở.

  1. c) Thay đổi triệt để cơ chế cấp phát tài chính: Độc lập ngân sách

Kiên quyết xóa bỏ cơ chế cấp ngân sách qua UBND cùng cấp. Ngân sách hoạt động tổng thể của khối Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cấp cơ sở phải được phân bổ định mức cứng theo quy mô dân số, đặc điểm địa lý và được HĐND cấp tỉnh phê duyệt, chuyển thẳng thông qua hệ thống ngành dọc (Ủy ban MTTQ cấp tỉnh) về tài khoản của Mặt trận cơ sở. Sự độc lập về tài chính là điều kiện tiên quyết để Mặt trận có một tư thế độc lập, khách quan khi thực hiện chức năng giám sát chính quyền cùng cấp.

  1. d) Ứng dụng công nghệ số toàn diện xây dựng "Mặt trận số" hướng về nhân dân

- Xây dựng Hệ thống tiếp nhận phản ánh số (Mặt trận trực tuyến): Phát triển các ứng dụng di động công cộng hoặc trang mạng xã hội chính thống (Zalo) của MTTQ cấp cơ sở. Người dân có thể gửi trực tiếp các phản ánh, kiến nghị, bằng chứng hình ảnh/video về các hành vi tiêu cực, ô nhiễm môi trường, chậm trễ thủ tục hành chính của công quyền đến Mặt trận một cách bảo mật.

- Số hóa quản lý đoàn viên, hội viên: Đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu dùng chung về đoàn viên, hội viên của 5 tổ chức thành viên, giúp tối ưu hóa công tác quản lý nhân sự, tránh tình trạng một người tham gia quá nhiều hội nhưng hoạt động hình thức.

  1. e) Đa dạng hóa nguồn lực giám sát thông qua các Ban tư vấn và Nhân dân:

Vì không còn cấp huyện hỗ trợ chuyên môn, MTTQ cấp cơ sở phải chủ động thành lập các Ban tư vấn, thu hút lực lượng trí thức, chuyên gia, cựu chiến binh, cán bộ công chức cao cấp đã nghỉ hưu sinh sống trên địa bàn tham gia. Đây là nguồn "chất xám" cực kỳ quý báu, giúp Mặt trận nâng cao chất lượng khoa học và tính pháp lý của các văn bản phản biện xã hội đối với các dự án kinh tế, đất đai phức tạp của chính quyền.

  1. f) Phát huy sức mạnh tổng hợp từ sự phân công giám sát chuyên đề cho 5 tổ chức trực thuộc:

Mỗi tổ chức chính trị - xã hội có thế mạnh chính trị và chuyên môn riêng. Cần phát huy thế mạnh đó trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội bằng cách phân công rõ ràng, phù hợp năng lực của từng tổ chức và phối hợp chặt chẽ dưới sự chỉ đạo chung của MTTQ.

├───KẾT LUẬN

Việc chuyển dịch sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một xu thế tất yếu, khách quan của một nền quản trị quốc gia hiện đại, tinh gọn và hiệu quả và là quyết tâm chính trị lớn của Đảng ta khi bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, sự thành công của mô hình này không chỉ phụ thuộc vào sự tinh giản bộ máy hành chính nhà nước, mà quyết định bởi năng lực tự đổi mới, tự thích ứng của tổ chức Đảng và Mặt trận Tổ quốc tại địa phương – hai trụ cột bảo đảm tính định hướng chính trị và tính nhân dân của quyền lực.

Khó khăn, thách thức đối với các tổ chức Đảng ở xã, phường, đặc khu là điều tất yếu trong cuộc cách mạng cải cách bộ máy hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nếu biết dựa vào dân, kiên quyết đổi mới tư duy lãnh đạo, đồng thời vận dụng linh hoạt mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội, các tổ chức Đảng ở cơ sở hoàn toàn có thể chuyển hóa thách thức thành cơ hội, khẳng định vững chắc vai trò là "hạt nhân chính trị" ở cơ sở.

Đứng trước những khó khăn mang tính bước ngoặt về áp lực quản lý hành chính đa ngành, sự thiếu hụt công cụ giám sát và nguy cơ quá tải hệ thống, các giải pháp về độc lập ngân sách, số hóa công tác quản trị, luật hóa hiệu lực giám sát phản biện của Mặt trận Tổ quốc cùng với đó là phân công giám sát phù hợp với vị thế chính trị và năng lực chuyên môn của từng tổ chức thuộc Mặt trận, chính là chìa khóa vàng của thành công. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này không chỉ giúp khắc phục triệt để các hạn chế hiện tại, mà còn định hình nên một cơ chế kiểm soát quyền lực xã hội từ bên dưới vững chắc, bảo đảm chính quyền địa phương hai cấp luôn thực sự là một chính quyền của dân, do dân và vì dân trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước./.


───────────── thanh niên ở lại quê hương.   ứng dụng CNTT đô thị.         phát triển cùng kinh tế.

─────────────┐

│               PHÂN CÔNG GIÁM SÁT CHUYÊN ĐỀ TẠI CƠ SỞ                   │

├────────────────────────────┬───────────────────────────────────────────┤

│    Tổ chức thành viên      │              Chuyên đề giám sát trọng tâm │

├────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────┤

│ • Công đoàn cấp cơ sở      │ Giám sát chính sách lao động, việc làm, an│

│                            │ toàn lao động tại các doanh nghiệp trên   │

│                            │ địa bàn.                                  │

├────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────┤

│ • Hội Nông dân             │ Giám sát việc thực hiện chính sách đất đai│

│                            │ đền bù, giải phóng mặt bằng, nông nghiệp. │

├────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────┤

│ • Hội Liên hiệp Phụ nữ     │ Giám sát công tác bình đẳng giới, an sinh │

│                            │ xã hội, bảo vệ trẻ em và gia đình.        │

├────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────┤

│ • Đoàn Thanh niên          │ Giám sát cải cách thủ tục hành chính công │

│                            │ tại bộ phận Một cửa, dịch vụ công trực    │

│                            │ tuyến.                                    │

├────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────┤

│ • Hội Cựu chiến binh       │ Giám sát đạo đức công vụ, sự gương mẫu của│

│                            │ cán bộ, đảng viên, công chức địa phương.  │

└────────────────────────────┴───────────────────────────────────────────┘

 

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
18-06-2026

Đánh giá (0)

1000068640
100006864210000686431000068644
1000081430
TIN NÓNG MỚI

Chưa cập nhật

Chưa cập nhật

TIN NÓNG MỚI

Chưa cập nhật

CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

Chưa cập nhật

XUNG ĐỘT CHỦ QUYỀN

Chưa cập nhật

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG

Chưa cập nhật

   VIỆN CHÍNH TRỊ, HÀNH CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
   ☎️ 0904153125 ☎️ 0982422082 ☎️ 0927890588
   Email: ipapp19052026@gmail.com
   Địa chỉ: Tầng 4, Cung Trí thức Thành phố, số 1, phố Tôn Thất Thuyết, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 
   Chịu trách nhiệm nội dung: GS.TSKH Phan Xuân Sơn
   Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh  ☎️ 0927890588       
Lượt truy cập
Đang truy cập: 3
Trong ngày: 84
Trong tuần: 643
Lượt truy cập: 771440
Lên đầu trang