Đăng ký | Đăng nhập

Email / Điện thoại

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu | Quên mật khẩu

1000083467
1000082861
BẢN QUYỀN THUỘC VIỆN CHÍNH TRỊ, HÀNH CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG THEO CHỨNG NHẬN SỐ A-1834 CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP NGÀY 08/11/2017. Chịu trách nhiệm nội dung website: GS.TSKH Phan Xuân Sơn. Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh ☎️ 0927890588

BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC 1

In bài viết
BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC 1

BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC

Chủ đề: NĂNG LỰC CÁC CHỦ THỂ TRONG CẤU TRÚC LƯỚI QUẢN TRỊ QUỐC GIA VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

GS.TSKH Phan Xuân Sơn

Viện Chính trị, hành chính và Chính sách công

Mục lục bài viết

94

BÀI THAM LUẬN KHOA HỌC

Chủ đề: NĂNG LỰC CÁC CHỦ THỂ TRONG CẤU TRÚC LƯỚI QUẢN TRỊ QUỐC GIA VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

GS.TSKH Phan Xuân Sơn

Viện Chính trị, hành chính và Chính sách công


PHẦN MỞ ĐẦU: ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ TIẾP CẬN 

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử quan trọng, bước vào một kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, việc chuyển đổi mô hình từ “quản lý nhà nước truyền thống” sang “quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả” không còn là một lựa chọn, mà là một tất yếu khách quan, một đòi hỏi mang tính sinh tử.

Quản trị quốc gia là một phương thức vận hành xã hội phức hợp, trong đó năng lực của các chủ thể quyết định chất lượng và hiệu năng của toàn bộ hệ thống. Ở Việt Nam, nền quản trị quốc gia không vận hành theo một trục đơn lẻ mà được cấu thành bởi sự tích hợp biện chứng của hai “bộ ba” trụ cột:

    1. Bộ ba mang tính bản chất chính trị - pháp lý: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ".
    2. Bộ ba mang tính cấu trúc vận hành kinh tế - xã hội: "Nhà nước, Thị trường, Xã hội".

 

  • Bộ ba mang tính sinh thái: Thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực.

 

Khi đan cài ba bộ ba này, chúng tạo thành một cấu trúc lưới quản trị quốc gia (Matrix of National Governance). Trong cấu trúc lưới này, các chủ thể vừa giữ vị trí độc lập mang tính chức năng, vừa tương tác hữu cơ, kiểm soát và thúc đẩy lẫn nhau. Hơn thế nữa, mạng lưới này không vận hành trong chân không, mà tồn tại bên trong một hệ sinh thái quản trị bao gồm các yếu tố: Thể chế, hạ tầng (kinh tế, xã hội, công nghệ - đặc biệt là công nghệ số) và nền tảng nguồn nhân lực.

Trong phạm vi bài tham luận này, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, đa chiều về năng lực hiện có của bốn chủ thể cốt lõi cấu thành lưới quản trị: (1) Đảng lãnh đạo, (2) Nhà nước quản lý, (3) Thị trường (với tư cách động lực phát triển quan trọng), (4) Nhân dân làm chủ; từ đó đề xuất các giải pháp, quyết sách chiến lược đột phá nhằm nâng cao năng lực của các chủ thể này, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

PHẦN 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG LƯỚI QUẢN TRỊ QUỐC GIA

1.1. Chủ thể Đảng lãnh đạo: Năng lực chiến lược và vai trò dẫn dắt toàn diện

Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể hạt nhân, giữ vai trò lãnh đạo tối cao trong cấu trúc lưới quản trị quốc gia. Bản chất năng lực lãnh đạo của Đảng không phải là năng lực điều hành hành chính sự vụ, mà là năng lực định hình tầm nhìn, xây dựng mục tiêu chiến lược, truyền cảm hứng và dẫn dắt toàn xã hội.

Về thành tựu và năng lực hiện có:

Thực tiễn lịch sử và công cuộc Đổi mới đã chứng minh năng lực hoạch định đường lối và định hướng chiến lược ở tầm vĩ mô của Đảng là rất lớn. Đảng đã thiết lập được hệ thống mục tiêu dài hạn rõ ràng (tầm nhìn 2030 và 2045), tạo ra sự đồng thuận chính trị cao độ. Năng lực truyền cảm hứng và khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần đại đoàn kết dân tộc của Đảng thông qua các nghị quyết, văn kiện đại hội là không thể phủ nhận. Đảng đóng vai trò như "kim chỉ nam", giữ cho lưới quản trị quốc gia luôn đi đúng hướng, duy trì sự ổn định chính trị tuyệt đối – đây là lợi thế cạnh tranh chiến lược lớn nhất của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động.

Về những khoảng cách và thách thức trước yêu cầu hiện đại:

Tuy nhiên, đặt trong yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại, năng lực lãnh đạo của Đảng đang đối mặt với những thách thức không nhỏ:

- Năng lực dự báo và thích ứng chiến lược: Trước sự thay đổi quá nhanh của công nghệ, mô hình kinh tế mới (kinh tế số, kinh tế xanh) và các biến động địa chính trị phức tạp, công tác dự báo chiến lược của một số cơ quan tham mưu của Đảng đôi lúc còn chậm, mang tính ứng phó hơn là chủ động kiến tạo.

- Phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và Xã hội: Ranh giới giữa "Đảng lãnh đạo" và "Nhà nước quản lý" ở một số nơi, một số cấp đôi khi chưa thực sự rõ ràng. Có lúc, có nơi xảy ra hiện tượng Đảng bao biện, làm thay công việc quản lý hành chính của Nhà nước; ngược lại, có lúc lại buông lỏng lãnh đạo, dẫn đến sự chệch hướng hoặc kém hiệu quả trong thực thi chính sách.

- Năng lực kiểm soát quyền lực và tự đổi mới: Mặc dù công tác chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả mang tính bước ngoặt, nhưng sự tồn tại của một bộ phận cán bộ sa sút về năng lực và đạo đức cho thấy cơ chế giám sát quyền lực nội bộ và công tác đánh giá, sàng lọc cán bộ vẫn cần những đổi mới căn bản về mặt công nghệ quản trị.

1.2. Chủ thể Nhà nước quản lý: Từ tư duy quản lý hành chính sang năng lực kiến tạo và phát triển

Nhà nước là chủ thể thực thi, cụ thể hóa đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách và tổ chức vận hành toàn bộ đời sống quốc gia. Năng lực của Nhà nước trong quản trị hiện đại bao gồm: năng lực xây dựng thể chế, năng lực thực thi, năng lực cung ứng dịch vụ công, năng lực thích ứng và quản trị khủng hoảng.

- Về thành tựu và năng lực hiện có:

Nhà nước Việt Nam đã có bước tiến dài về năng lực kiến tạo thể chế kinh tế - xã hội, bảo đảm sự ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs). Việc triển khai chiến lược Chính phủ số, chính quyền điện tử trong những năm gần đây đã nâng cao rõ rệt năng lực quản trị bằng dữ liệu, giảm thiểu chi phí giao dịch cho người dân và doanh nghiệp.

- Về những điểm nghẽn và hạn chế thực tế:

Đối chiếu với đòi hỏi của một nền quản trị hiện đại, năng lực của bộ máy Nhà nước đang bộc lộ những điểm nghẽn cốt tử:

+ Năng lực kiến tạo thể chế chưa đồng bộ, còn xung đột: Hệ thống pháp luật, quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật (ví dụ giữa Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu), tạo ra các "bẫy pháp lý" vô hình khiến cơ quan thực thi e ngại. Năng lực thiết lập hành lang pháp lý cho các mô hình kinh tế mới (Sand-box) còn rất chậm.

+ Tâm lý trì trệ, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm: Đây là biểu hiện rõ nhất của sự suy giảm năng lực thực thi. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức có xu hướng "an toàn là trên hết", không dám quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền, gây đình trệ các nguồn lực đầu tư công và cơ hội phát triển của doanh nghiệp. Nền hành chính vẫn mang nặng tư duy "xin - cho", quản lý bằng rào cản thay vì kiến tạo, thúc đẩy.

+ Năng lực giải trình và hiệu quả phối hợp ngang - dọc: Cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành (phối hợp ngang) và giữa Trung ương với địa phương (phối hợp dọc) còn mang tính cơ học, cắt khúc. Khả năng phản hồi, giải trình trước các kiến nghị mang tính thị trường và xã hội nhiều lúc còn mang tính hình thức, thiếu công nghệ tương tác thời gian thực.

+ Hệ quả tổng hợp là năng lực thự thi yếu, năng suất lao động thập:

Về tốc độ tăng: Tính riêng năm vừa qua, NSLĐ theo giá so sánh tăng 6,83%. Bình quân cả giai đoạn vừa qua đạt khoảng 4,78% - 5,2%/năm. Đây là mức tăng trưởng khá cao so với mặt bằng chung của thế giới, chủ yếu nhờ tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ được cải thiện (đạt gần 29,2%). Tuy nhiên dù tốc độ tăng trưởng cải thiện nhanh, song khoảng cách về giá trị tuyệt đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới vẫn còn rất lớn: Nếu so sánh theo sức mua tương đương (PPP): So với Singapore: NSLĐ của Việt Nam vẫn ở khoảng cách rất xa, chỉ bằng khoảng 10% đến 11,2% của Singapore (tức là năng suất của 1 lao động Singapore bằng khoảng 9 - 10 lao động Việt Nam cộng lại). Malaysia và Thái Lan: NSLĐ Việt Nam hiện bằng khoảng 52,8% của Malaysia và 59,6% của Thái Lan. Vị thế tổng thể: Trong khối Đông Nam Á, Việt Nam nằm ở nhóm trung bình thấp. Dù quy mô kinh tế của chúng ta đã vươn lên đứng thứ 3 ASEAN (vượt qua Thái Lan, chỉ sau Indonesia và Thái Lan/Singapore tùy tiêu chí), nhưng tính theo hiệu suất/đầu người thì chúng ta vẫn xếp sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, và Brunei.

So với Trung Quốc: NSLĐ của Việt Nam hiện bằng khoảng 57% (gần 3/5) so với Trung Quốc. 

Nguyên nhân chính là do quản trị quốc gia: Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam (một trong những động lực chính tăng NSLĐ) hiện xếp hạng thứ 55/100 toàn cầu.

1.3. Chủ thể Thị trường: Động lực quan trọng nhất và rào cản năng lực nội tại

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực thị trường (đặc biệt là khối kinh tế tư nhân) được định vị là động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế. Năng lực của thị trường thể hiện ở khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc tế, năng lực đổi mới sáng tạo và công nghệ.

Thực tế thị trường đã đáp ứng vai trò "động lực quan trọng nhất" chưa?

Câu trả lời là: Đã có động lực, nhưng chưa thực sự giải phóng hết tiềm năng và chưa đạt được sự phát triển bền vững như kỳ vọng.

- Về quy mô và cơ cấu: Mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng nhanh, nhưng đại đa số (trên 95%) vẫn là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SMEs). Nền kinh tế thiếu vắng các tập đoàn công nghệ lớn, các doanh nghiệp sếu đầu đàn có đủ năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng ứng toàn cầu hoặc cạnh tranh sòng phẳng ở thị trường quốc tế.

- Năng lực đổi mới công nghệ và năng suất lao động: Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của khối doanh nghiệp Việt Nam còn ở mức rất thấp. Phần lớn doanh nghiệp vẫn dựa vào khai thác tài nguyên, thâm dụng lao động giá rẻ hoặc thương mại dịch vụ thuần túy, chưa chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức và công nghệ cao.

- Năng lực quản trị doanh nghiệp: Mô hình quản trị của đa số doanh nghiệp tư nhân còn mang tính gia đình, thiếu tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng quản trị rủi ro kém trước các biến động lớn của thị trường thế giới. Mức độ liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn rất lỏng lẻo, khiến doanh nghiệp nội địa đứng bên lề các chuỗi giá trị toàn cầu.

1.4. Chủ thể Nhân dân làm chủ: Từ khẩu hiệu chính trị đến thực quyền quản trị

Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể tối cao của nền quản trị quốc gia Việt Nam. Năng lực làm chủ của nhân dân thể hiện qua năng lực tự quản cộng đồng, năng lực phản biện, giám sát xã hội và khả năng chủ động tham gia vào quy trình chính sách.

- Thực tế nhân dân đã thực sự làm chủ chưa?

Đánh giá một cách thẳng thắn, quyền làm chủ của nhân dân đã được thể chế hóa rất đầy đủ trong Hiến pháp và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, tuy nhiên, năng lực thực tế để hiện thực hóa quyền làm chủ đó vẫn còn khoảng cách lớn so với lý luận.

+ Tính hình thức trong cơ chế tham gia: Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" ở nhiều nơi vẫn dừng lại ở mức khẩu hiệu. Quy trình tham vấn ý kiến nhân dân đối với các quy hoạch, dự án luật hay chính sách địa phương nhiều khi còn mang tính thủ tục, "bỏ phiếu hộ", chưa có kênh tiếp nhận và phản hồi thực chất.

+ Năng lực số và khoảng cách thông tin: Trong bối cảnh quản trị số, năng lực tiếp cận, xử lý thông tin và sử dụng các công cụ số để thực hiện quyền làm chủ của một bộ phận lớn người dân (đặc biệt là ở nông thôn, miền núi) còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự bất đối xứng thông tin giữa cơ quan quản lý và người dân, làm giảm hiệu quả giám sát xã hội.

+ Sự thiếu hụt năng lực phản biện chuyên sâu: Khả năng giám sát, phản biện của các tổ chức đại diện cho nhân dân (Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội - nghề nghiệp) đối với các chính sách kinh tế - kỹ thuật chuyên sâu còn yếu, do thiếu đội ngũ chuyên gia và cơ chế độc lập tài chính, vận hành.

PHẦN 2: HỆ SINH THÁI QUẢN TRỊ QUỐC GIA – NHỮNG TÁC ĐỘNG NỀN TẢNG

Sự vận hành của cấu trúc lưới 4 chủ thể trên bị quy định mạnh mẽ bởi hệ sinh thái bao quanh. Khi hệ sinh thái này bị lỗi, năng lực của các chủ thể sẽ bị kìm hãm.

2.1. Hệ sinh thái Thể chế: Đây là hạ tầng của mọi hạ tầng. Thể chế hiện tại của Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, tính dự báo chưa cao, cơ chế bảo vệ những người đổi mới sáng tạo, "dám nghĩ, dám làm" chưa đủ mạnh mẽ để giải phóng năng lực hành động của chủ thể Nhà nước và Thị trường. (Lấy ví dụ về NQ 57/TƯ và những chuyển biến trong nghiên cứu khoa học, đổi mới, sáng tạo)

2.2. Hệ sinh thái Hạ tầng: Hạ tầng logistics, hạ tầng năng lượng tuy có phát triển nhưng chi phí còn cao, tạo ra gánh nặng lớn cho năng lực cạnh tranh của chủ thể Thị trường. Hạ tầng số còn yếu, chưa đồng đều thiếu kết nối. Hệ sinh thái Công nghệ: Sự bùng nổ của Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data) vừa là cơ hội nâng tầm quản trị số, vừa tạo áp lực cực lớn buộc cả Nhà nước, Doanh nghiệp và Người dân phải tự nâng cấp năng lực số của mình nếu không muốn bị gạt ra khỏi guồng quay phát triển.

2.3. Hệ sinh thái Nhân lực: Đây là trung tâm của hệ sinh thái. Sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ cốt lõi (bán dẫn, AI, tự động hóa) và các nhà quản trị công, quản trị chiến lược doanh nghiệp chuyên nghiệp là rào cản lớn nhất đối với việc nâng cao năng lực của tất cả các chủ thể.

PHẦN 3: ĐỊNH HƯỚNG QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁC CHỦ THỂ TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế tự cường, tự chủ, cần có những quyết sách chiến lược đồng bộ, mang tính đột phá nhằm nâng cấp năng lực cho cả 4 chủ thể trong ma trận quản trị quốc gia.

3.1. Đối với chủ thể Đảng lãnh đạo: Đổi mới phương thức lãnh đạo khoa học, nâng tầm tư duy chiến lược

Đảng phải tự nâng cấp năng lực của mình để trở thành một thực thể lãnh đạo hiện đại, khoa học, truyền cảm hứng mạnh mẽ cho toàn dân tộc:

- Hiện đại hóa công tác tham mưu và dự báo chiến lược: Thiết lập hệ thống các cơ quan nghiên cứu chính sách, các "Think-tank" độc lập, ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để dự báo các xu thế toàn cầu, từ đó xây dựng các kịch bản chiến lược chủ động cho đất nước.

Định rõ đường biên của phương thức lãnh đạo: Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, định hướng lớn và bằng công tác cán bộ, tuyệt đối không can thiệp sâu, làm thay vào chức năng quản lý điều hành hành chính của Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng việc thiết lập các nguyên tắc và kiểm tra giám sát, đồng thời tạo không gian tự chủ tối đa cho bộ máy hành chính.

- Đổi mới căn bản công tác cán bộ: Chuyển đổi tư duy đánh giá cán bộ dựa trên bằng cấp, thâm niên sang đánh giá dựa trên kết quả đầu ra (KPIs), sản phẩm thực tế và chỉ số đổi mới sáng tạo. Xây dựng cơ chế chính trị pháp lý rõ ràng, khả thi để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, loại bỏ tâm lý sợ sai, trì trệ.

3.2. Đối với chủ thể Nhà nước quản lý: Chuyển mạnh sang Nhà nước kiến tạo, hành động và quản trị số

Nhà nước phải rũ bỏ hoàn toàn tư duy quản lý mệnh lệnh hành chính truyền thống để trở thành một Nhà nước phục vụ, kiến tạo phát triển:

- Đột phá thể chế và cắt giảm chi phí tuân thủ: Tập trung rà soát, dứt khoát tháo gỡ các quy định pháp lý chồng chéo, mâu thuẫn. Thiết lập tư duy lập pháp mới: Luật chỉ quy định những khung nguyên tắc lớn, tạo không gian linh hoạt cho chính quyền địa phương chủ động điều hành. Áp dụng rộng rãi cơ chế thử nghiệm chính sách (Sand-box) để khuyến khích các mô hình kinh tế mới, công nghệ mới phát triển.

- Quản trị bằng dữ liệu và tối ưu hóa bộ máy: Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động quản trị công. Xây dựng và kết nối thông suốt các kho dữ liệu quốc gia (đất đai, doanh nghiệp, dân cư). Mọi quy trình hành chính phải được tự động hóa tối đa, giảm thiểu tương tác trực tiếp "con người - con người" để triệt tiêu tận gốc nhũng nhiễu, tiêu cực.

- Phân cấp, phân quyền triệt đi đôi với trách nhiệm giải trình: Trung ương chuyển giao mạnh mẽ quyền quyết định về tài chính, đất đai, dự án cho địa phương gắn với các tiêu chí giám sát rõ ràng. Xây dựng hệ thống phản hồi, giải trình trực tuyến thời gian thực để tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các vướng mắc của doanh nghiệp và người dân.

3.3. Đối với chủ thể Thị trường: Phát triển các tập đoàn kinh tế dân tộc và nâng cao năng lực số, năng lực cạnh tranh

Để thị trường thực sự trở thành động lực quan trọng nhất, Nhà nước cần có những chính sách dẫn dắt để nâng tầm năng lực nội tại của khối doanh nghiệp:

- Chiến lược phát triển các Tập đoàn kinh tế dân tộc: Có chính sách đặc thù, tập trung nguồn lực quốc gia để nuôi dưỡng, hỗ trợ hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Những tập đoàn này sẽ đóng vai trò hạt nhân, kéo theo sự phát triển của hệ sinh thái các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

- Thúc đẩy liên kết chuỗi và nâng cấp công nghệ: Tạo cơ chế bắt buộc hoặc khuyến khích (thông qua ưu đãi thuế, đất đai) để các doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển giao công nghệ và sử dụng tỷ lệ nội địa hóa cao, kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị của họ. Hỗ trợ tài chính mạnh mẽ cho các chương trình chuyển đổi số, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp SMEs.

- Chuẩn hóa quản trị doanh nghiệp hiện đại: Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các chuẩn mực quản trị quốc tế tiên tiến, minh bạch tài chính, hướng tới phát triển bền vững (tiêu chuẩn ESG), nâng cao năng lực tự chủ và khả năng chống chịu trước các cú sốc thị trường toàn cầu.

3.4. Đối với chủ thể Nhân dân làm chủ: Thực quyền hóa vai trò chủ thể thông qua nền tảng số, xây dựng nền dân chủ số và cơ chế phản biện thực chất

Để năng lực làm chủ của nhân dân được phát huy tối đa, cần chuyển hóa các quyền hiến định thành các công cụ thực thi hiệu quả trên thực tế:

- Xây dựng nền tảng số công dân tham gia quản trị (E-Participation): Phát triển các ứng dụng di động quốc gia cho phép người dân trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến, bỏ phiếu đối với các chính sách, quy hoạch của địa phương và trung ương. Dữ liệu tham vấn phải được công khai, minh bạch và cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải phản hồi, giải trình một cách công khai.

- Nâng cao năng lực phản biện chuyên sâu của Mặt trận và các tổ chức xã hội: Đổi mới cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hội, đoàn thể theo hướng chuyên nghiệp hóa. Cho phép các tổ chức này thiết lập cơ chế ngân sách độc lập để thuê chuyên gia, nhà khoa học độc lập thực hiện công tác phản biện xã hội đối với các chương trình, dự án lớn của quốc gia một cách khách quan, thực chất.

- Nâng cao năng lực làm chủ số và kỹ năng tự quản của cộng đồng: Triển khai các chiến dịch quốc gia về phổ cập kỹ năng số, văn hóa ứng xử trên không gian mạng và năng lực tiếp cận thông tin cho người dân. Khuyến khích và nhân rộng các mô hình cộng đồng tự quản, mô hình làng/đô thị thông minh nơi người dân tự chủ quản lý các công việc của đời sống cơ sở dựa trên công nghệ và sự đồng thuận.

KẾT LUẬN

Nâng cao năng lực các chủ thể trong cấu trúc lưới quản trị quốc gia của Việt Nam không phải là một tập hợp các biện pháp kỹ thuật đơn lẻ, biệt lập, mà là một cuộc cải cách mang tính hệ thống, toàn diện và sâu sắc. Sự tương tác biện chứng, hài hòa và đồng bộ giữa một Đảng lãnh đạo có tầm nhìn và sức truyền cảm hứng; một Nhà nước quản lý bằng tinh thần kiến tạo, hành động và công nghệ số; một Thị trường tràn đầy động lực đổi mới sáng tạo, công nghệ cao; và một bộ phận Nhân dân thực quyền làm chủ chính là "chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa đưa Việt Nam bứt phá.

Khi cấu trúc lưới này vận hành trơn tru trong một hệ sinh thái thể chế minh bạch, hạ tầng hiện đại và nguồn nhân lực vượt trội, Việt Nam không chỉ tối ưu hóa được mọi nguồn lực nội tại mà còn tạo ra một sức mạnh tổng hợp quốc gia to lớn, tự tin vững bước, vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng dân tộc giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

 

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
18-06-2026

Đánh giá (0)

1000068640
100006864210000686431000068644
1000081430
TIN NÓNG MỚI

Chưa cập nhật

Chưa cập nhật

TIN NÓNG MỚI

Chưa cập nhật

CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

Chưa cập nhật

XUNG ĐỘT CHỦ QUYỀN

Chưa cập nhật

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG

Chưa cập nhật

   VIỆN CHÍNH TRỊ, HÀNH CHÍNH VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
   ☎️ 0904153125 ☎️ 0982422082 ☎️ 0927890588
   Email: ipapp19052026@gmail.com
   Địa chỉ: Tầng 4, Cung Trí thức Thành phố, số 1, phố Tôn Thất Thuyết, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 
   Chịu trách nhiệm nội dung: GS.TSKH Phan Xuân Sơn
   Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh  ☎️ 0927890588       
Lượt truy cập
Đang truy cập: 6
Trong ngày: 28
Trong tuần: 655
Lượt truy cập: 771712
Lên đầu trang